Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, thay thế Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022. Nghị định gồm 06 Chương, 68 Điều, điều chỉnh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Những điểm đáng chú ý của Nghị định 283/2026/NĐ-CP:
1. Nghị định 283/2026/NĐ-CP hoàn thiện hệ thống chế tài theo các luật mới
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định 283 là việc cập nhật hệ thống xử phạt để đồng bộ với các thay đổi của pháp luật trong những năm gần đây, đặc biệt là Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Việc làm năm 2025, Luật Công đoàn năm 2024 và các quy định mới về quản lý lao động. Nghị định 283 kế thừa nhiều quy định của Nghị định 12/2022/NĐ-CP nhưng đồng thời bổ sung, điều chỉnh các hành vi và chế tài để phù hợp với khuôn khổ pháp luật mới.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả trong các lĩnh vực sau đây:
a) Lao động, bao gồm: việc làm, tuyển dụng và quản lý lao động; điều kiện lao động và quan hệ lao động; an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức đại diện ngườilao động tại cơ sở;
b) Bảo hiểm xã hội;
c) Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.
3. Quản lý Người lao động và Hợp đồng lao động:
Theo Điều 11, hành vi không khai trình sử dụng lao động; không nhập đầy đủ thông tin của người lao động vào sổ quản lý lao động; không xuất trình sổ khi được yêu cầu có thể bị xử phạt. Các hành vi như không báo cáo tình hình thay đổi lao động hoặc không lập sổ quản lý lao động đúng quy định cũng thuộc nhóm hành vi bị xử lý.
Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định 283 tăng cường chế tài liên quan đến dữ liệu người lao động và dữ liệu thị trường lao động, phù hợp với xu thế số hóa quản lý lao động. Việc khai thác, chia sẻ hoặc sử dụng trái phép những thông tin, dữ liệu chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố có thể bị xử phạt ở mức đáng kể.
Nghị định 283/2026/NĐ-CP duy trì chế tài khá nghiêm đối với các hành vi vi phạm trong giao kết và thực hiện hợp đồng lao động, như không giao kết đúng loại hợp đồng, không giao hợp đồng cho người lao động theo quy định, giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động hoặc yêu cầu người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền, tài sản để thực hiện hợp đồng. Các mức phạt trong nhiều trường hợp được xác định theo số lượng người lao động bị vi phạm.
4. Quy định về xử phạt về giao kết hợp đồng lao động, thử việc, thực hiện hợp đồng, chấm dứt lao động:
+ Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người lao động làm công việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại
khoản 2 Điều 18 của Bộ luật Lao động; giao kết không đúng loại hợp đồng lao động với người lao động.
+ Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Sửa đổi thời hạn của hợp đồng bằng phụ lục hợp đồng lao động; không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền cho người lao động theo quy định của pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; không hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
+ Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không báo cho người lao động trước 03 ngày làm việc hoặc không thông báo hoặc thông báo không rõ thời hạn làm tạm thời hoặc bố trí công việc không phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.
5. Tiền lương phải trả đúng thời hạn:
Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định tương đối toàn diện các hành vi vi phạm về tiền lương. Người sử dụng lao động có thể bị xử phạt nếu không xây dựng hoặc không công khai thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế thưởng; không thông báo bảng kê trả lương đúng quy định; không tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động trong các trường hợp pháp luật yêu cầu hoặc phân biệt đối xử trong trả lương.
Đáng chú ý hơn là nhóm hành vi liên quan trực tiếp đến quyền lợi hàng tháng của người lao động: trả lương không đúng hạn; trả thiếu tiền lương; không trả đủ tiền làm thêm giờ; tiền làm việc ban đêm; tiền lương ngừng việc; khấu trừ tiền lương trái quy định hoặc không thanh toán tiền những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng khi người lao động nghỉ việc. Mức phạt tăng dần theo số người lao động bị ảnh hưởng. Đối với tổ chức, hành vi trả lương không đúng hạn hoặc trả thiếu có thể dẫn tới mức phạt lên đến 100 triệu đồng trong trường hợp ảnh hưởng từ 301 người lao động trở lên, ngoài nghĩa vụ phải trả đủ số tiền còn thiếu và khoản tiền lãi theo quy định.
6. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:
Nghị định 283/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định xử phạt các vi phạm về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi tại Điều 24. Một trong những hành vi bị xử phạt là không bảo đảm nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định hoặc không thực hiện nghĩa vụ thông báo khi tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm thuộc trường hợp pháp luật cho phép.
+ Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đảm bảo cho người lao động nghỉ trong giờ làm việc hoặc nghỉ chuyển ca theo quy định của pháp luật; huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
7. Nội quy lao động, kỷ luật lao động:
Nghị định 283/2026/NĐ-CP tiếp tục xử lý nghiêm các hành vi vi phạm liên quan đến nội quy và kỷ luật lao động. Việc không có nội quy lao động bằng văn bản khi sử dụng từ 10 người lao động trở lên; xử lý kỷ luật không đúng trình tự, thủ tục hoặc thời hiệu; sử dụng hình thức phạt tiền, cắt lương để thay thế kỷ luật; hoặc xử lý hành vi không được quy định trong nội quy có thể dẫn đến xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả.
Nghị định cũng chú trọng đối thoại tại nơi làm việc và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Người sử dụng lao động có thể bị phạt nếu không xây dựng hoặc sửa đổi quy chế dân chủ ở cơ sở, không tổ chức đối thoại định kỳ, không phối hợp tổ chức hội nghị người lao động hoặc không công khai các nội dung phải công khai theo quy định. Các nội dung phải công khai bao gồm nhiều vấn đề gần gũi với người lao động như thang bảng lương, nội quy, quy chế, quỹ khen thưởng - phúc lợi, đóng bảo hiểm và kinh phí công đoàn.
8. Chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội :
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của Nghị định 283/2026/NĐ-CP nằm ở lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhằm đồng bộ với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
+ Điều 43 quy định rõ chế tài đối với chậm đóng BHXH bắt buộc. Đối với hành vi chậm đóng, mức phạt có thể tính từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng, tối đa 75 triệu đồng đối với mức phạt áp dụng theo quy định của điều khoản. Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn phải đóng đủ số tiền chậm đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng.
+ Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 Điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.
+ Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, theo một trong các mức sau đây:
+ Điều 44,45 xử lý nghiêm hơn đối với trốn đóng BHXH, BHTN bắt buộc, trong đó bao gồm trường hợp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHTN thấp hơn mức phải đóng theo quy định hoặc không đóng, đóng không đầy đủ sau thời gian và thủ tục đôn đốc luật định mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt có thể từ 18% đến 20% số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng; đồng thời vẫn phải nộp đủ số tiền còn thiếu và khoản 0,03%/ngày.
Điểm đáng chú ý ở đây là pháp luật mới phân định rõ hơn giữa “chậm đóng” và “trốn đóng”, thay vì chỉ nhìn vào việc tại một thời điểm doanh nghiệp còn nợ tiền BHXH.
9. Nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn:
Nghị định 283/2026/NĐ-CP cũng quy định chế tài đối với việc chậm đóng, đóng không đủ hoặc không đóng kinh phí công đoàn. Theo Luật Công đoàn hiện hành, doanh nghiệp và các chủ thể thuộc diện áp dụng có trách nhiệm đóng kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Khi xảy ra vi phạm, ngoài xử phạt, chủ thể vi phạm có thể phải nộp đủ phần kinh phí còn thiếu và tiền lãi theo quy định.
10. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử:
Nghị định 283/2026/NĐ-CP ghi nhận việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định hướng dẫn. Đây là một điểm mới đáng chú ý so với khuôn khổ trước đây, phản ánh xu hướng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước.
Điều này có nghĩa rằng việc trao đổi hồ sơ, dữ liệu và xử lý thủ tục với cơ quan nhà nước ngày càng có thể được thực hiện trên môi trường số. Vì vậy, việc bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, nhất quán và khả năng truy xuất của hồ sơ điện tử tại VATM ngày càng quan trọng. Hồ sơ nhân sự và dữ liệu nội bộ không nên được xem chỉ là hồ sơ phục vụ quản trị doanh nghiệp mà còn có thể trở thành tài liệu pháp lý trực tiếp để chứng minh việc tuân thủ.
11. Về cơ chế chuyển hồ sơ có dấu hiệu tội phạm:
Điều 4 của Nghị định 283/2026/NĐ-CP lần đầu tiên liệt kê cụ thể các nhóm hành vi mà khi phát hiện dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ cho cơ quan tố tụng hình sự, bao gồm: giả mạo hoặc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả; khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép dữ liệu về người lao động và thị trường lao động; mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép dữ liệu; xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm người lao động khi xử lý kỷ luật; cùng một số hành vi tái phạm nghiêm trọng khác. Đáng chú ý, Nghị định còn thiết lập cơ chế xử lý hai chiều: nếu cơ quan tố tụng hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự, hồ sơ sẽ được chuyển trở lại để xử phạt hành chính, tạo thành một quy trình khép kín và đầy đủ hơn so với trước đây.
12. Về quản lý dữ liệu người lao động:
Đây là điểm mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Lần đầu tiên, Nghị định bổ sung chế tài riêng đối với hành vi xâm phạm thông tin, dữ liệu trong lĩnh vực việc làm tại Điều 10. Hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép dữ liệu về người lao động và thị trường lao động chưa được công bố có thể bị phạt từ 20 đến 40 triệu đồng; hành vi mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép các dữ liệu này có thể bị phạt từ 50 đến 70 triệu đồng. Quy định này cho thấy dữ liệu người lao động chính thức trở thành đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ về mặt pháp lý, không chỉ dừng lại ở các nghĩa vụ truyền thống về hợp đồng lao động, tiền lương hay BHXH.
13. Về đăng ký, điều chỉnh thông tin lao động:
Điều 12 quy định mức phạt đối với người lao động không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin đăng ký lao động (từ 1–2 triệu đồng), đồng thời quy định mức phạt đối với người sử dụng lao động không đăng ký, không điều chỉnh thông tin đăng ký lao động khi nộp hồ sơ tham gia BHXH, được phân theo quy mô số lao động: từ 5–10 triệu đồng đối với đơn vị có 1–50 người lao động; 10–15 triệu đồng đối với 51–100 người; và 15–20 triệu đồng đối với từ 101 người lao động trở lên.